Truyền thông nhà nước mới đây đã đồng loạt trích dẫn quan điểm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về khái niệm “sự tử tế” và “người tử tế”, điều đó đang dấy lên những tranh luận sâu sắc trong dư luận xã hội tại Việt Nam.
Theo lập luận của ông Tô Lâm, sự tử tế không đơn thuần là phẩm chất đạo đức cá nhân, mà còn là vốn xã hội, sức mạnh văn hóa và là một phần nền tảng cốt lõi của một quốc gia văn minh.
Tuy nhiên, công luận đang đặt ra một câu hỏi không dễ có câu trả lời, đó là: Liệu ông Tô Lâm có thể xây dựng được một xã hội tử tế tại Việt Nam hay không, khi sự tử tế trong ông đang mâu thuẫn sâu sắc với vấn đề này?
Theo giới chuyên gia, về mặt lý thuyết, sự tử tế bao hàm các tiêu chuẩn về lòng tốt, sự lương thiện, và đặc biệt là tính trung thực – sống đúng với lương tâm, không nói dối và không bè cánh vì lợi ích riêng của cá nhân cũng như phe cánh.
Đây là những giá trị đạo đức cao đẹp nhưng lại trở nên “xa xỉ” khi đặt vào bối cảnh thượng tầng chính trị ở Ba Đình – với thể chế chính trị độc đảng lãnh đạo thiếu vắng sự kiểm soát và điều chỉnh quyền lực cần phải có.
Khác với một xã hội thượng tôn công lý vốn chỉ tập trung vào việc phân phối công bằng các nguồn lực như tiền bạc, cơ hội và quyền lợi.
Một xã hội tử tế lại tập trung vào việc bảo vệ danh dự và nhân phẩm của mỗi công dân, và bảo đảm rằng không một ai, bị hạ thấp hay xúc phạm danh dự.
Hơn nữa, khi gạt bỏ vụ ăn steak dát vàng sang một bên, thì bản thân người đứng đầu hệ thống vẫn chưa thể chứng minh được nền tảng trung thực và tinh thần thượng tôn pháp luật của mình.
Theo đó, sự tử tế của một xã hội không chỉ đến từ việc các cá nhân tự đối xử tốt với nhau, mà ngược lại, chính cách vận hành của hệ thống chính trị sẽ tạo ra con người tử tế.
Kinh nghiệm từ Trung Quốc đã cho thấy họ phát triển thành công ở một chừng mực nào đó nhờ chủ trương coi trọng cải cách và pháp trị. Đây là hai cái cánh của một con chim bắt buộc cần phải có.
Ngược lại, cuộc cải cách sâu rộng do ông Tô Lâm phát động tại Việt Nam trong thời gian gần đây khó đi đến thành công, bởi vì tiến hành cải cách mà không đi đôi với việc cải cách hệ thống pháp trị.
Hơn thế nữa, một xã hội như ở Việt Nam hiện nay đang duy trì sự ưu đãi giai cấp theo tiêu chuẩn “có công với cách mạng”, sẽ vô tình biến xã hội Việt nam thành của riêng những người Cộng sản.
Đáng quan ngại hơn là cách thức mà chế độ đang bảo vệ những đặc quyền này, khi bộ máy sẵn sàng sỉ nhục, đấu tố những người tử tế lương thiện dám dũng cảm nói lên sự thật.
Bất kỳ ai cất lên tiếng nói trung thực ngay lập tức bị dán nhãn là phản động, là ngụy, là lật sử…, hay việc ai có nhận xét khác với hệ tư tưởng “chính thống” sẽ bị quy kết là bôi bác nhân vật lịch sử và phải đối mặt với nguy cơ tù tội.
Ngay cả cá nhân ông Tô Lâm cách đây chưa lâu, khi nói lên một sự thật lịch sử về sự phát triển của Sài Gòn thập niên 60 so với Singapore, cũng ngay lập tức bị làn sóng bảo thủ thông qua lực lương Dư luận Viên phản đối dữ dội.
Trong một xã hội mà việc nói lên sự thật trở thành một điều phạm pháp, xã hội đó sẽ là một xã hội của sự dối trá, và chỉ có thể sinh sản ra những con người dối trá mà thôi.
Một xã hội tử tế không đòi hỏi mọi người phải yêu thương nhau, nhưng bắt buộc phải có một hệ thống các định chế bảo vệ được danh dự và nhân phẩm tối thiểu cho mỗi con người.
Chừng nào hệ thống chính trị còn ở Việt Nam còn dùng bạo lực tư tưởng để che đậy sự dối trá và bóp nghẹt quyền phẩm giá của người dân, thì khát vọng xây dựng một xã hội tử tế của ông Tô Lâm sẽ mãi chỉ là điều hoang tưởng mà thôi.










