Ngày 16/10/2026, truyền thông nhà nước dẫn lời Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Thanh Nghị cho biết: Sau 20 năm thực hiện chủ trương cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, số lượng đảng viên trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh đã tăng hơn 5 lần, chính thức chạm mốc 187.000 người.

Con số gần 200 ngàn đảng viên Đảng CSVN đang làm kinh tế tư nhân – tức đang tham gia bóc lột này ngay lập tức kích hoạt những câu hỏi gay gắt về mặt lý luận chính trị lẫn thực tiễn quản lý ở Việt Nam dưới thể chế chính trị độc đảng toàn trị.
Công luận đặt ra một câu hỏi: Phải chăng Đảng CSVN – một tổ chức chính trị là đại diện cho giai cấp công nhân và quyền lợi của nhân dân lao động nay đang có xu hướng tự chuyển hóa thành một “đảng của những kẻ bóc lột”?
Theo giới phân tích, nhận định cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang có xu hướng trở thành “đảng bóc lột” nếu chỉ nhìn qua lăng kính lý luận kinh tế Chủ nghĩa Mark – Lenine thì có phần phiến diện, và chưa chính xác.
Việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân từng được khởi đầu từ Quyết định số 15/QĐ -TW năm 2006 và mới nhất là Quy định số 224 của Đảng đã chính thức hợp pháp hóa và mở rộng quyền làm giàu chính đáng cho các đảng viên.
Đây được xem là một bước đột phá lý luận nhằm xóa bỏ những định kiến theo ý thức hệ cũ, để giải phóng tối đa sức sản xuất và huy động năng lực quản trị của đảng viên vào công cuộc phát triển đất nước.
Trong mô hình Kinh tế thị trường “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”, đội ngũ 187.000 đảng viên làm kinh tế đang đóng góp trực tiếp vào việc tạo ra giá trị thặng dư, và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động.
Đồng thời, họ đóng vai trò là lực lượng sản xuất năng động chứ không chỉ thuần túy là hành vi bóc lột. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất và nguy hiểm nhất chính là nguy cơ hình thành tầng lớp “tư bản thân hữu” và các “nhóm lợi ích” cùng hiện tượng trục lợi chính sách.
Khi một đảng viên nắm giữ quyền lực chính trị hoặc sở hữu các mối quan hệ đặc quyền trong bộ máy nhà nước, đồng thời lại vận hành doanh nghiệp tư nhân, thì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các doanh nghiệp sân sau của họ sẽ trở nên phổ biến.
Theo giới chuyên gia quản lý nhà nước, để kiểm soát nguy cơ tha hóa này, hệ thống pháp lý hiện hành đang chủ động trong việc thiết lập các hàng rào bảo vệ một cách hết sức nghiêm ngặt.
Theo Quy định 224 phân loại rõ giới hạn cho từng nhóm đảng viên, và nghiêm cấm tuyệt đối cán bộ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đầu tư thành lập tổ chức kinh tế.
Bên cạnh đó, về mặt pháp luật, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Cán bộ, công chức và Luật Doanh nghiệp…, đều đã siết chặt quy định cấm công chức thành lập doanh nghiệp hoặc để người thân kinh doanh trong phạm vi mình trực tiếp quản lý.
Tuy nhiên, còn cần phải buộc đảng viên công tác trong khu vực nhà nước phải tách bạch hoàn toàn minh bạch giữa tài sản nhà nước với việc kinh doanh riêng của cá nhân mình.
Sự thận trọng của Việt Nam càng thể hiện rõ khi so sánh tương quan với mô hình quản trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay.
Nếu như Bắc Kinh áp dụng thuyết “Ba đại diện” từ năm 2001 đã chủ động kết nạp các tỷ phú tài phiệt vào Đảng CSTQ và lập các chi bộ Đảng trực tiếp bên trong các tập đoàn tư nhân như một cách để kiểm soát quyền lực.
Thì Việt Nam lại chọn cách tiếp cận dựa trên việc quản lý xung đột lợi ích thực tế. Theo đó, Việt Nam khuyến khích đảng viên làm kinh tế để phát triển đất nước, nhưng vẫn kiên quyết giữ vững nền tảng bản chất giai cấp công nhân. Tuyệt đối không để trở thành lực lượng tư sản bóc lột.
Tóm lại, nếu không kiểm soát được vấn đề các đảng viên làm kinh tế tư nhân sẽ làm cho tính chính danh và đại diện cho người lao động của Đảng CSVN sẽ không bảo đảm nguyên tắc của Điều Lệ Đảng, và sự hiến định của Hiến pháp.
Trà My – Thoibao.de
=======
Đảng CSVN đang kiểm soát sự chuyển hóa để tránh trở thành “đảng bóc lột” ra sao?
“… Đảng kiểm soát nguy cơ 187.000 đảng viên “bóc lột” từ làm kinh tế tư nhân bằng cách siết chặt xung đột lợi ích, cấm cán bộ trong khu vực công lập doanh nghiệp sân sau.”
#Vietnam #ChinhTruongVN #Thoibao










