Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu có ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế. Con số nghe đầy tham vọng, nhất là khi chỉ còn chưa đầy hai thập niên để biến một mục tiêu trên nghị quyết thành những đô thị thực sự có sức cạnh tranh toàn cầu. Nguyễn Thanh Nghị cho biết định hướng này gắn với việc phát triển các vùng động lực, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng câu hỏi đáng chú ý là: “tầm thế giới” sẽ được đo bằng những tòa nhà cao bao nhiêu tầng, hay bằng chất lượng sống, giao thông, năng suất và khả năng thu hút con người, vốn và công nghệ?
Bởi xây một đô thị lớn không đơn giản là mở rộng địa giới rồi đặt thêm vài khu đô thị mới. Một thành phố muốn bước lên bản đồ thế giới phải giải được những bài toán rất thực tế: hạ tầng có theo kịp dân số không, giao thông có bớt quá tải không, môi trường có chịu nổi tốc độ phát triển không, và người dân có thực sự được hưởng lợi từ quá trình đô thị hóa? Nếu những điểm nghẽn này chưa được giải quyết, danh xưng “đô thị tầm thế giới” rất dễ trở thành một chiếc áo quá rộng mặc trước khi cơ thể kịp lớn.
2045 vì thế không chỉ là một mốc thời gian đẹp trên lịch, mà là phép thử cho năng lực thực thi. Mục tiêu 5 đô thị có thể tạo cảm hứng, nhưng thứ quyết định thành công vẫn là quy hoạch, nguồn lực, quản trị và khả năng biến những kế hoạch dài hạn thành công trình, dịch vụ và chất lượng sống cụ thể. Cuối cùng, thế giới sẽ không chấm điểm bằng khẩu hiệu. Người dân cũng vậy. Đến năm 2045, điều được hỏi có lẽ rất đơn giản: Việt Nam đã thật sự có những đô thị tầm thế giới, hay chỉ có những mục tiêu từng được tuyên bố là “tầm thế giới”?









